Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang Chủ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang Chủ. Hiển thị tất cả bài đăng

29/2/16


Khi nhận xong lời dạy của Đức Thế Tôn, ông A Nan Đà có trình thưa hỏi Đức Phật thêm:
- Kính bạch Đức Thế Tôn: Đức Thế Tôn vừa dạy cụ Thường Pháp Tín về tu Thanh Tịnh thiền, cụ ấy đã giác ngộ được lời dạy của Đức Thế Tôn, chúng con sẽ biên tập lại những lời quý báu ấy, để có đủ trọn lời của Đức Thế Tôn dạy sau cùng và ban đầu, kính xin Đức Thế Tôn dạy lại những lời dạy ban đầu mà Đức Thế Tôn dạy 5 anh em ông Kiều Trần Như cũng như 4 người bạn đồng tu với ông ấy, để con ghi chép lại cho đầy đủ, kính xin Đức Thế Tôn dạy con? 
Đức Phật dạy ông A Nan Đà và đại chúng:
Phần này, Như Lai nhờ ông A Nhã Kiều Trần Như thuật lại, nếu có gì thiếu sót Như Lai sẽ bổ túc thêm.
Đức Phật liền gọi ông A Nhã Kiều Trần Như thuật lại cơ duyên mà ông Kiều Trần Như được Đức Phật đầu tiên dạy đạo, ông cùng 4 người em và 4 người bạn đồng tu giác ngộ được “Yếu chỉ Phật ngôn”. 
Ông A Nhã Kiều Trần Như kể lại cho ông A Nan Đà và đại chúng nghe dưới sự chứng kiến của Đức Thế Tôn, ông kể:
- Đầu tiên, Đức Thế Tôn tu khổ hạnh cùng 5 anh em chúng tôi:
1- Tôi là A Nhã Kiều Trần Như. 
2- Các em tôi là Kiều Trần Na.
3- Kiều Trần Nhi.
4- Kiều Trần Thi.
5- Kiều Trần Nga.
Và bốn người bạn:
1- Ông Bạt Đề hay Tiểu Hiền.
2- Ông Thực Lực hay Khởi Tín.
3- Ông Ma Nam hay Đại Danh.
4- Ông Át Bệ hay Mã Sư, cũng gọi là Mã Thắng.
Chín anh em tôi lúc đầu tu khổ hạnh với Đức Thế Tôn, sau Đức Thế Tôn bỏ 9 anh em chúng tôi đi tu pháp môn khác. Chúng tôi tưởng rằng Đức Thế Tôn thối chí, bỏ tu. Hai năm sau, Đức Thế Tôn tìm đến chúng tôi nói là Ngài đã chứng được “Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”, chúng tôi không tin. Đức Thế Tôn nói mấy lần mà anh em chúng tôi cũng không tin. Sau cùng, Đức Thế Tôn gọi 9 anh em chúng tôi lại bảo:
- Các ông ở lại đây ít lâu, Ta sẽ chứng minh cho các ông biết là Ta đã chứng được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. 
Đức Thế Tôn liền nhìn lên hư không và nói:
- Này Thần Kim Cương: Ta là Thái tử Tất Đạt Đa, trong Hoàng triều thường gọi Ta là Sĩ Đạt Ta. Từ nhiều kiếp trước, Ta là môn đồ của Đức Phật Nhiên Đăng. Đức Phật Nhiên Đăng có thọ ký cho ta rằng: Sau này, ở cõi Ta bà, Ta sẽ được thành Phật hiệu là Thích Ca Văn. Hôm nay, Ta tu Thanh Tịnh thiền, đã chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Chín người có mặt nơi đây là những người trợ giúp Ta thành lập ra Giáo đoàn đạo Giác ngộ, để giáo hóa loài người ở cõi Nam Diêm Phù Đề này. Nguồn gốc của con người nói riêng, còn nói chung là chúng sanh, ban đầu là ở trong “Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh”. Vậy, Thần Kim Cương hãy giúp Ta; vì Ta nói hoài mà bọn họ không tin. 
Đức Thế Tôn vừa dứt lời, trên hư không, bỗng trời sáng rực, ánh sáng mát diệu, Thần Kim Cương liền xuất hiện và có lời rằng:
- Này 5 anh em ông A Nhã Kiều Trần Như và 4 người bạn đồng tu với Thái tử Tất Đạt Đa: Hôm nay, Thái tử Tất Đạt tu Thanh Tịnh thiền đã chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, các ông có bổn phận phụ giúp Thái tử thành lập ra Giáo đoàn đạo Giác ngộ để hoằng dương giáo hóa pháp môn Thanh Tịnh thiền này, để giúp cho loài người ở cõi Ta bà này giác ngộ và giải thoát. Khi Thái tử đã hoàn tất công việc của Ngài, cũng là lúc các ông viên mãn công đức. Khi các ông được viên mãn công đức rồi, thì các ông cũng được trở về Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh, là nơi Mười phương chư Phật sinh sống, tức là Phật giới.
Vị Thần Kim Cương nói tiếp:
Hiện nay, Thái tử Tất Đạt Đa đã thành Phật nên được 10 danh hiệu như sau: 
1- Ứng cúng: Được Người và Trời cúng dường.
2- Chánh biến tri: Cái biết chân chánh và tột cùng, có thể dùng thần thông minh họa.
3- Minh hạnh túc: Việc làm thật trong sáng và đầy đủ.
4- Thiện thệ: Thệ nguyện rằng: luôn làm các điều lành.
5-Thế gian giải: Giải được tất cả các pháp môn của thế gian này đến chỗ chân thật.
6-Vô thượng sỹ: Dù cái học thức của thế giới này có cao bao nhiêu cũng thua cái hiểu biết của người giác ngộ.
7- Điều ngự trượng phu: Thu phục tất cả những người ở cõi nhân gian này, dù là vua hay quan.
8-Thiên, Nhân, sư: Làm Thầy tất cả các cõi trời và tất cả các loài người.
9- Phật: Giác ngộ, sáng suốt hoàn toàn trùm khắp, không tối tăm bất cứ chỗ nào.
10-Thế Tôn: Tại thế giới này hay trong tam giới này, ai ai cũng tôn kính Ngài.
Vì vậy, Ngài được hiệu là:
- Giáo chủ trong cõi Ta bà này, tức không ai hơn Ngài được. Do đó, Thái tử Tất Đạt Đa bắt đầu là một vị Pháp Vương Vô Thượng, mở đường giáo hóa chúng sanh khắp trong cõi Ta bà này để vượt ra ngoài thế giới loài người bằng pháp môn Thanh Tịnh thiền.
Vậy, các ông hãy phụ giúp Ngài thành lập ra Giáo đoàn đạo Giác ngộ, để giáo hóa loài người. 
Vừa nghe vị thần Kim Cương nói xong: Năm anh em chúng tôi và bốn người bạn đồng tu liền đảnh lễ Thái tử và gọi danh Thái tử Tất Đạt Đa là “Thế Tôn”. Các anh em chúng tôi và các người bạn cùng tu đồng ý giúp Thái tử Tất Đạt Đa thành lập ra Giáo đoàn đạo Giác ngộ. Để xứng đáng là người đứng trong hàng ngũ Giáo đoàn, Đức Thế Tôn liền dạy anh em chúng tôi và 4 người bạn biết pháp môn Thanh Tịnh thiền. Để 5 anh em chúng tôi và 4 người bạn nhận ra chỗ sâu mầu của pháp môn Thanh Tịnh thiền này, nên Đức Thế Tôn dạy 5 anh em chúng tôi và 4 người bạn đồng tu như sau: 
Đức Thế Tôn dạy:
- Này các anh em ông Trần và 4 người bạn: Cồ Đàm ta đưa ra ví dụ về “Bụi trần” để 5 anh em ông và 4 người bạn hiểu, thì việc ngộ đạo không khó.
Các ông muốn biết sự thật tại thế giới này, hay trong 1 tam giới, hoặc khắp trong càn khôn vũ trụ này. Đầu tiên, các ông phải hiểu 2 phần căn bản như sau:
Một: Tổng thể thân của các ông là do 8 thứ duyên hợp lại gồm có: 1- Đất. 2- Nước. 3- Gió. 4- Lửa. 5- Tổng nghiệp. 6- Tánh Phật. 7- Tánh người. 8- Điện từ Âm Dương.
Hai: Trong thân của các ông có 2 Tánh:
1- Tánh Phật: gồm có: Thấy, Nghe, Nói, Biết. Công dụng của 4 thứ này như sau:
A- Thấy: Lúc nào cũng thấy gọi là hằng Thấy:
B- Nghe: Lúc nào cũng nghe gọi là hằng Nghe.
C- Nói: Lúc nào cũng rung động, khi muốn phát ra tiếng là có tiếng gọi là hằng Pháp.
D-Biết: Lúc nào cũng biết 3 thứ trên gọi là hằng Tri.
Ba: Tánh người gồm có 16 thứ: 1- Thọ. 2. Tưởng. 3. Hành. 4- Thức. 5- Tài. 6- Sắc. 7- Danh. 8- Thực. 9- Thùy. 10-Tham. 11- Si. 12- Mạn. 13- Nghi. 14- Ác. 16- Kiến. 
* Mười sáu thứ nói trên nó lại bị bao phủ lên 8 muôn 4 ngàn cái bong bóng cấu tạo bằng vô số màu sắc ảo giác của điện từ Âm Dương nữa. Tổng thể của một con người nó là như vậy. Các thứ nói trên gộp lại thành là cái Ngã chấp, tức chấp có Ta hay chấp có Tôi.
* Trong thân của một con người có Phật tánh. 
Ông Bạt Đề liền hỏi: 
- Đã có Phật tánh sao không biết đường thoát ra ngoài?
Đức Thế Tôn dạy:
- Tuy có Phật tánh, nhưng vì Phật tánh bị Tánh người bao bọc và giữ lại, nên cái Biết của tánh Phật bị sai lệch. Do vậy, không biết được đường chính xác để thoát ra.
Đã vậy, lại bị 2 hạng người sau đây lường gạt nữa, 
- Thứ nhất: Ai muốn giải thoát họ sẽ giúp cho; nhưng phải tin tuyệt đối lời của họ dạy, thì họ mới giúp cho giải thoát. Hạng ngưởi này cũng là Phàm phu như bao nhiêu người khác. 
Thứ hai: Người trung gian phụ họa và hù dọa thêm: 
- Ai muốn vị này giúp giải thoát hãy đưa tiền cho người trung gian này, thì ông ta sẽ trình với vị nói trên.
Lời bịa trơ trẽn như vậy mà lại có rất nhiều người tin.
Vì sao vậy?
Vì loài người có cái Tưởng và Tham là mạnh nhất, nên nghe ai nói đúng cái Tưởng và Tham của mình là nghe theo, dù có phải bán nhà giao cho họ cũng làm, không cần suy nghĩ gỉ cả. Đã vậy mà còn kêu gọi những người xung quanh ngu theo mình nữa!
Đức Thế Tôn dạy tiếp:
Người nào muốn giải thoát chỉ cần rõ thông 4 thứ như sau là được: 
Một: Giải thoát là gì?
Hai: Bẳng phương cách nào?
Ba: Giải thoát đi về đâu?
Bốn: Nơi mình đến cuộc sống ra sao?
Bốn phần trên thông suốt rồi, chỉ mới hiểu được 50% thôi. 
Đức Đức Thế Tôn dạy tiếp 9 anh em chúng tôi:
Để các ông đủ tư cách đứng vào hàng ngũ Giáo đoàn đạo Giải thoát thì các ông phải thông hiểu: 
- Trong 1 tam giới có 6 đường luân hồi; trong 6 đường luân hồi này như sau: 
Một: Trái đất này cấu tạo bằng 5 thứ: Đất. Nước. Gió. Lửa. Điện từ Âm Dương, là nơi Ngũ thú tạp cư, tức 5 loài sống chung, gồm:
1-Loài Thần, cũng gọi là A Tu La.
2-Loài Người.
3-Loài Ngạ quỷ.
4-Loài Súc sanh.
5-Loài Địa ngục.
Hai: Các loài Trời.
Các loài Trời có đến 33 hành tinh, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương, gồm:
- Cõi Trời Dục giới.
- Cõi Trời Hữu Sắc giới.
- Cõi Trời Vô Sắc giới.
Nếu nói đủ: Trong 1 Tam giới có đến 45 hành tinh có sự sống. Phần này, Như Lai sau này mới dạy. Hôm nay, chỉ dạy các ông căn bản để nhận ra Phật tánh của mỗi người, để các ông xứng đáng là 1 thành viên trong Giáo đoàn đạo Giải thoát của Như Lai thôi. 
Như Lai dạy các ông căn bản sau đây để nhận ra cái gì là chân thật làm sự sống của các ông, nói gọn đó là Phật tánh. 
Như Lai đưa ra ví dụ sau đây: nếu các ông kiên trì, thật chú ý, cố gắng nghe, chắc chắn sẽ biết cái nào Phật tánh và cái nào là tánh Người. 
Khi các ông đã hiểu, gọi là Giác ngộ. Tiến xa hơn một bước nữa thấu triệt những gì mà Như Lai dạy, gọi là đạt được “Bí mật Phật tánh”. 
Nếu trong các ông, ai có đại duyên đại phúc nhận và thấy được rõ ràng Tánh Thanh tịnh của chính các ông. Tánh Thanh tịnh này sẽ nhìn thấy được màn trong suốt ngăn cách giữa Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh, là nơi Mười phương chư Phật sinh sống, đó cũng là quê hương chân thật của mỗi người đó, cũng gọi là Phật giới.
Sao gọi là Phật giới?
- Vì là nơi Mười phương chư Phật sinh sống.
- Cái màn trong suốt này, Như Lai gọi là “Cửa Hải Triều Âm".
Vì sao Như Lai gọi như vậy?
- Vì tại ranh giới này:
* Bên Phật giới rất Thanh tịnh.
* Còn bên thế giới loài người, điện từ Âm Dương cuốn hút thật mãnh liệt để tạo thành vòng luân hồi, kéo tất cả những gì có mặt nơi thế giới này đi theo chu kỳ: Thành - Trụ - Hoại - Diệt!
Đức Thế Tôn dạy:
Vị nào muốn vào Phật giới sinh sống, thì phải hiểu như sau:
Một: Hết duyên sống nơi thế giới này.
Hai: Phải có ít hoặc nhiều công đức.
Vậy, các ông chú ý nghe Như Lai dùng “Bụi trần” để ví dụ, các ông nhận ra cái nào là thật và cái nào là không thật, tự nhiên các ông biết.
Như buổi sáng hay xế chiều, ánh sáng của mặt trời chiếu qua khe cửa hay khe vách, các ông thấy ánh sáng chiếu qua các khe ấy, trong ánh sáng ấy có những hạt bụi bay lơ lửng.
* Ánh sáng và hư không Như Lai tạm ví là “Phật tánh”.
* Những hạt bụi ví là “Vọng tưởng tánh của con người”.
* Hai thứ này tuy ở chung một chỗ, nhưng thứ nào ra thứ nấy, không dính nhau. Trong chuyên môn của người tu Thiền Thanh tịnh, gọi là Tuệ tri, tức thấy biết chân thật. Ai thấy biết thật rõ ràng như vậy rồi, muốn giải thoát thì phải thực hành như sau:
1- Phải nhận ra và sống với tánh Phật thanh tịnh của chính mình.
2- Không dính mắc với vật chất và tánh Vọng của chính mình, danh từ chuyên môn gọi là Vô trụ.
3- Vận hành vật lý Âm Dương để tạo ra nhân quả nơi thế giới này. 
Ai biết được như vậy, muốn thoát ra ngoài thế giới vật lý này thì mới thoát được.
Đức Thế Tôn dạy thật rõ:
- Phật tánh là Thanh tịnh.
- Vọng tánh là lôi kéo đi trong Lục đạo luân hồi.
- Muốn giải thoát, duy nhất là phải luôn sống với tánh Phật của chính mình, khi thuần thục tự nhiên được tự tại, tức đã được giải thoát rồi, nhưng giải thoát này còn nằm trong sức hút của vật lý thế giới này. Muốn giải thoát để bước qua cửa Hải Triều Âm thì phải biết tạo ra công đức thì mới qua cửa này được.
Đức Thế Tôn liền nói bài kệ về ý nghĩa này như sau:
"Phật tánh, không nay, không xưa
Phật tánh không thêm, không bớt, không thừa
Người thấy sanh tử, dây dưa
Hai thứ không chạm chỗ xưa Niết bàn".
Vừa nghe Đức Thế Tôn nói xong bài kệ, 5 anh em chúng tôi và 4 người bạn cùng tu liền ùa khóc và đảnh lễ Đức Thế Tôn; Đức Thế Tôn biết được chín người chúng tôi đã ngộ đạo, liền nói tiếp bài kệ thứ 2:
"Sự thật, lẽ thật ở ta
Ngoài ta tìm lẽ thật ắt theo tà
Theo tà phải đi theo trong lục đạo
Vào lục đạo biết kiếp nào ra!".
Vừa nghe Đức Thế Tôn dạy 2 bài kệ xong, tôi là A Nhã Kiều Trần Như, đại điện cho 8 người, liền xuất khẩu đọc làm bài kệ 16 câu để trình chỗ sở ngộ của 9 chúng tôi:
Kệ rằng:
" Lang thang muôn nẻo tìm cầu
Triệu đời, tỷ kiếp, chuyện không đâu
Hôm nay nghe được Cồ Đàm dạy
Chúng tôi nhận được quý hơn Châu.
Ân đức này chúng tôi mãi ghi 
Tức khắc truyền đi chẳng khó chi
Bỏ Vọng, bỏ Chơn là chính “Nó”
Mãi mê tìm kiếm thật ngu si.
Dụng công tìm kiếm Phật làm chi
Trực nhận Tánh chân, ngộ tức thì
Trần kia xao xuyến phải lìa bỏ
Tánh kia tịnh, sáng, nhận ngay đi.
Cám ơn người bạn trước cùng tu
Chỉ chỗ thâm sâu thật tối mù
Hôm nay chúng tôi thật sự biết
Nhận ra Phật tánh không cần tu".
Đức Thế Tôn nghe anh em chúng tôi trình bày kệ xong, biết anh em chúng tôi đã giác ngộ đến chỗ thâm sâu của pháp môn Thanh Tịnh thiền, nên ấn chứng rằng:
"Đầu tiên Như Lai thuyết đạo mầu
Các ông triệt ngộ chỗ thâm sâu
Như Lai mừng các ông thấu hiểu
Ngọc châu Như Ý chẳng tìm đâu.
Nói xong bài kệ 4 câu, Đức Thế Tôn nói với 5 anh em chúng tôi và 4 người bạn cùng tu rằng:
- Hôm nay các ông đã triệt ngộ lời của Như Lai dạy, vậy các ông hãy cùng Như Lai thành lập Giáo đoàn đạo Giác ngộ để truyền bá pháp môn Thanh Tịnh thiền này. Trước, giúp cho loài người ở cõi Ta bà này. Sau, giúp loài người hậu thế biết cấu tạo của vạn vật cũng như thế giới này nói hẹp, còn nói rộng là khắp trong càn khôn vũ trụ này, để mọi người không bị lầm mê nữa, nhờ vậy chuyện giác ngộ và giải thoát rất dễ dàng. 
Vì sao được dễ dàng? 
Vì khi người tu nhận ra lý chân thật nơi thế giới này cũng như trong 1 tam giới hay Hằng hà sa số tam giới khác, nếu ai muốn giải thoát ra ngoài thế giới loài người, chỉ cần thực hiện thật đúng lời dạy của Như Lai thì tức khắc giải thoát ngay!
Chín anh em chúng tôi vâng lời Đức Thế Tôn dạy, nên truyền bá pháp môn Thanh Tịnh thiền, chỉ trong 3 ngày mà Giáo đoàn đạo Giải thoát của Đức Thế Tôn đã thu nhận trên 600 người. Còn khi Đức Thế Tôn dạy nhóm anh em chúng tôi, có trên 100 người có mặt chứng kiến vị Thần Kim Cương nói chuyện, tất cả các người này đều xin Đức Thế Tôn nhận làm đệ tử.
Thật may mắn thay!
Trong cõi Ta bà này, có một vị Thánh nhân ra đời để cứu vớt loài người biết đường lối vượt ra ngoài thế giới vật lý Âm Dương này để trở về nguồn cội của chính mình.
Thật hạnh phúc thay!
Trong thế giới này, có một vị Thánh nhân ra đời, dạy cho loài người biết nẻo chánh để tu hành, không rơi vào đường tà mê nữa.
Thật an lạc thay!
Trong cõi Nam Diêm Phù Đề này, có một vị Phật ra đời, để giúp cho loài người tu tập giác ngộ và giải thoát.
Trên đây là 3 bài ca ngợi của 5 anh em chúng tôi và 4 người bạn đồng tu, cám ơn Đức Thế Tôn và được Đức Thế Tôn chấp nhận những lời ấy, và cũng từ ngày đầu này, Giáo đoàn đạo Giác ngộ được thành lập, đứng đầu là Thái tử Tất Đạt Đa, được chúng tôi gọi là Đức Thế Tôn, và cũng từ đây danh xưng Đức Phật Thích Ca Văn mà Đức Phật Cổ Nhiên Đăng thọ ký cho Ngài từ thuở xa xưa nay đã thành hiện thực và chúng tôi gọi Ngài, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Đức Phật nghe ông A Nhã Kiều Trần Như thuật lại chuyện đầu tiên độ 5 anh em ông Kiều Trần Như và 4 người bạn đồng tu. Đức Phật liền nói:
- Đúng vậy, đúng vậy, ông A Nan Đà nên nhớ rõ biên chép lại, để sau này trong hội kiết tập kinh điển, ông đọc và thuật lại cho trong Hội kiết tập nghe.
TRÍCH QUYỂN " KHAI THỊ THIỀN TÔNG" - TÁC GIẢ NGUYỄN NHÂN.




Ông Trương Huyền Khánh, sanh 1945, tại Bảo Lộc, Lâm Đồng, cư ngụ tại quận Bình Thạnh, Tp.HCM. Hỏi một loạt 5 câu như sau:
Một: Trong các Luận của Tổ sư thiền dạy: ai muốn cho Phật xuất hiện tâm mình phải thanh tịnh, là thanh tịnh làm sao?
Hai: Không dụng công tu làm sao Phật tánh hiện ra được?
Ba: Người muốn làm Phật tử phải như thế nào?
Bốn: Tứ đại luôn luôn bị luân chuyển, tức luân hồi, cớ sao trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa Đức Phật dạy: Tứ đại là hằng thường và thanh tịnh?
Năm: Thiền sư Đức Sơn nói: Các ông tu theo đạo Phật đừng để cho Đức Phật và các vị Tổ sư lừa mình. Tại sao Thiền sư Đức Sơn lại có lời nói xúc phạm như vậy? 
Trưởng ban Quản trị chùa trả lời cho ông Trương Huyền Khánh: 
- Câu thứ nhất: Phật tánh xuất hiện. Đây là các vị Thiền sư dạy cách tu Thiền Thanh tịnh:
1- Có nghĩa như sau: Khi người tâm tự nhiên được thanh tịnh mà hằng tri rồi, tức không còn bị các vọng tưởng lao xao trong tâm thức của người tu nữa; tâm vọng tưởng không còn, tức thì Phật tánh của người đó sẽ hiện ra, cho nên các Ngài nói: - “Tâm thanh tịnh thì Phật sanh”, còn bên Tịnh độ các Ngài dạy: “Tâm tịnh thì Độ tịnh”. Có nghĩa là khi tâm người tu thanh tịnh rồi, tức khắc tâm mình là Tịnh độ đó.
2- Còn tâm người tu mà khởi vọng lên thì tâm thanh tịnh không còn, cũng gọi là Phật tánh bị mất đi, nên các Ngài nói: “Tâm vọng khởi lên thì Phật liền bị diệt”.
Chúng tôi đưa ví dụ cụ thể về vật lý để ông hiểu thật rõ như: ly nước bị đục là vì lúc nào chúng ta cũng làm cho nó xao động, nếu chúng ta không làm cho nó động, nước trong ly sẽ dần dần trong sáng lại.
Câu thứ hai: Về dụng công tu hành để Phật tánh hiện ra: Đây là câu hỏi tuy bình thường, nhưng lại rất khó giải đến chỗ sâu mầu này. Vì chỗ sâu mầu này, nên các vị tu Thiền, họ bảo phải dụng công kiểu này, hành kiểu kia, để lòi ra Phật tánh. Tôi xin giải chỗ này, ông nên cố gắng lắng nghe cơ may sẽ lãnh hội được:
Phật tánh vốn là thanh tịnh, rỗng lặng và hằng tri. Phật tánh vốn là như vậy, nếu vị nào dụng công tu hành, càng dụng công tu, thì tâm mình càng bị động; càng bị động thì Phật tánh làm sao hiển lộ ra được.
Tôi xin phân tích như sau:
Hiện giờ, chúng ta đang sống trong sự cuốn hút của vật lý Âm Dương, tức chúng ta lúc nào cũng ở trạng thái động và chạy theo dòng luân hồi. Như vậy, luôn lúc nào chúng ta cũng động, nên Phật tánh không thể nào hiển lộ ra được.
Đức Phật dạy:
- Các ông muốn cho Phật tánh của chính mình hiện ra, các ông chỉ cần để tâm thanh tịnh, nhưng luôn lúc nào cũng hằng biết là đủ. Còn các ông dụng công tu kiểu này, hành thiền theo kiểu nọ, tức các ông khuấy động tâm vật lý của các ông bị động, càng dụng công càng bị động thêm, thì làm sao Phật tánh hiển lộ ra được?
Vì nguyên lý này, mà Đức Phật dạy vị nào tu theo pháp môn Thiền Thanh tịnh là không cho dụng công là nguyên lý này vậy.
Câu thứ ba: Người muốn làm một Phật tử thật đúng nghĩa, người ấy bắt buộc phải nhận ra Tri, Kiến chân thật của chính mình; còn người không nhận ra, chỉ là mang danh từ hư ảo mà thôi!
Câu thứ tư: Nơi kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Đức Phật dạy tứ đại hằng thường, còn Phật tánh là vô thường: Đức Phật dạy chỗ này có ý nghĩa như sau:
- Tứ đại hằng thường còn. Tôi xin ví dụ: Như tánh nước, dù ở đâu cũng là nước: ở trong người, ở trong động vật hoặc ở trong ao, hồ, sông, biển, đều là tánh nước cả, nên gọi là thường. Tuy nước có luân chuyển, tức luân hồi, dù ở đâu, tánh nước vẫn là tánh nước. Vì vậy, gọi tứ đại là thường trong cái chân thường là vậy. Tánh nước có luân hồi, nhưng bản chất của nước vẫn là thanh tịnh, ba đại kia cũng như vậy.
Câu thứ năm: Đức Phật và các vị Tổ sư lừa người tu, xin giải thích như sau:
Đức Phật lừa người tu như sau: 
Như Đức Phật lừa người tu niệm Phật A Di Đà: Ai muốn tu về nước của Đức Phật A Di Đà để thụ hưởng những thức ăn toàn là những thứ ngon và quý nhất. Đất thì bằng vàng ròng, còn cảnh thì rất tốt tươi xinh đẹp. Chim muông, toàn là những thứ chim quý như: Ca Lân Tần Già, chim Anh Vũ, Bạch hạt, v.v… tiếng hót rất hay, người nghe lòng mình được phơi phới, v.v… 
Đức Phật dạy: 
Ai muốn thụ hưởng những thứ nói trên, hãy niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà, mà phải niệm cho đến khi vô niệm, sẽ được Đức Phật A Di Đà rước người niệm về nước của Ngài ở. Người có lòng tham lam, ham muốn cảnh mình ở sung sướng như vậy, nên niệm cho đến khi vô niệm, khi vô niệm rồi, cái tiếng niệm của mình tự nhiên không còn nữa. Người niệm liền cảm nhận được Tánh Thanh tịnh của chính mình, nhờ sống được với Tánh Thanh tịnh của chính mình , nên nhìn thấy được “Màn trong suốt của Hải Triều Âm”. Bên kia màn trong suốt của Hải Triều Âm là “Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh”. 
Đến đây, nước của Đức Phật A Di Đà đâu không thấy, mà chỉ thấy Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh là nơi Mười phương chư Phật sinh sống, cũng là quê hương cũ của chính mình. 
Nhờ Đức Phật Thích Ca lừa vậy, nên mình mới nhìn thấy “Quê hương chân thật” của chính mình. Còn muốn về sống nơi ấy thì phải biết công thức mới về được.
Còn các vị Tổ sư lừa người tu:
Các vị Tổ sư lừa người tu đặc biệt hơn Đức Phật:
Như có người tu nào đến hỏi các vị Tổ sư:
- Kính thưa Tổ: Làm sao con nhận ra Phật tánh của con.
Tổ liền đáp:
- Ông biết gạo ngoài chợ hôm nay giá bao nhiêu không?
Một câu trả lời lạc đề như vậy, ai lanh lợi sẽ nhận ra Phật tánh của chính mình, còn bằng cố tìm ý nghĩa câu trả lời của Tổ, muôn kiếp như đi tìm lông con rùa, hay sừng con thỏ vậy!
Vì chỗ bí hiểm này: một ngàn người hỏi, chưa chắc có một người hiểu. 
Để giúp cho những người có duyên lớn với Phật pháp, chúng tôi xin giải đáp như sau: Mong quý vị cố gắng nghe, nếu nhận ra hãy bám lấy đó mà tu theo lời của Tổ dạy.
Sở dĩ, Tổ trả lời như vậy là vì các Ngài muốn cho người hỏi không thể nào suy nghĩ lời nói của các Ngài được. Không suy nghĩ tức hết các vọng tưởng, hết các vọng tưởng tức người hỏi đã sống trong cái thanh tịnh của chính mình rồi. Chỉ một câu trả lời lạc đề ấy, mà Tổ đã đẩy người hỏi “Rơi vào cái Tánh Thanh tịnh” của chính mình lúc nào mà mình không hay!
Vì chỗ quá bí hiểm này, chúng tôi xin lập lại: Vị nào nhận ra chỗ này, tức khắc giác ngộ ngay! Mình giác ngộ là vì nhờ các Tổ lừa mình vậy! 
Người tu mà còn ham kiếm tìm, hoặc ham dụng công, thì đối với đạo Thiền coi như vô phần!
Ông Trương Huyền Khánh thốt lên: 
- Suốt đời tu học của tôi, tôi chưa hề nghe ai giải nói chỗ bí hiểm của Đức Phật dạy, cũng như biệt truyền của các vị Tổ. 
Ông hết sức vui mừng và cám ơn Trưởng ban. Nhiều người có mặt, ai cũng vui mừng theo.
TRÍCH QUYỂN " KHAI THỊ THIỀN TÔNG" - TÁC GIẢ NGUYỄN NHÂN.


9/2/16


- Nói không gian trùm khắp không biên giới.

- Gọi là “Bể tánh Thanh tịnh”.

- Trong Bể tánh Thanh tịnh có các phần như sau:

Một: Điện từ Quang trùm khắp, làm sự sống cho:

1- Tánh Phật.

2- Các vị Phật.
3- Cấu tạo vỏ bọc của tánh Phật.

Hai: Trong Phật giới có Hằng hà sa số cái Ý. Cái Ý này tự nhiên có đầy khắp trong Phật giới. Cái Ý này tự nó có 4 phần:
1- Lúc nào cũng thấy, gọi là hằng Thấy.

2- Lúc nào cũng nghe, gọi là hằng Nghe.

3- Lúc nào cũng rung động, muốn phát ra tiếng thì có tiếng, gọi là hằng Pháp.

4- Lúc nào cũng biết, gọi là hằng Tri.

TRÍCH QUYỂN “SÁCH TRẮNG THIỀN TÔNG”.





TẠI BUỔI VẤN ĐÁP SAU CÙNG NƠI RỪNG SA LA, TRƯỚC KHI NHẬP NIẾT BÀN, ĐỨC PHẬT CÓ NHẮC LẠI LỜI DẠY CỦA NGÀI VỚI CÁC ĐỆ TỬ LỚN VÀ CÁC MÔN ĐỒ CỦA NGÀI CŨNG NHƯ CÁC ĐỜI SAU, AI TU THEO ĐẠO CỦA NGÀI PHẢI HIỂU VÀ THỰC HÀNH ĐÚNG 6 PHẦN NHƯ SAU:
PHẦN 1: Tu còn luân hồi:
 * Sử dụng thân và tâm vật lý tu hành, thành tựu trong vật lý, nên còn luân hồi, gồm:
1/- Dụng công ngồi tu thiền Quán, Tưởng của 37 pháp, để biến vật nhỏ ra lớn, hoặc tâm an vui. Pháp môn này Ngài dạy 15 năm đầu nên gọi là Nguyên thủy, cũng gọi là Tiểu thừa. 
2/- Ngài đem pháp môn Nguyên thủy này ra lý luận, giải thích những hiện tượng nơi thế giới này. Pháp môn này Ngài dạy 15 năm kế tiếp gọi là Trung đạo.
3/- 15 năm kế tiếp nữa: Ngài dạy Suy tư, Nghi, Tìm hữu  dụng của vật chất nhỏ như vi trần, lớn như hành tinh. Gọi là Đại thừa.
Tổng cộng 3 pháp môn Tiểu, Trung và Đại thừa là 45 năm.
4/- Xen vào 45 năm  dạy này: Đức Phật có dạy thêm 2 pháp môn dụng công tu nữa:
A- Niệm Phật: Để thấy hình bóng của Đức Phật A Di Đà.
B- Niệm Chú: Để tích điện từ Âm Dương trị bệnh thân, tâm và an vui.
PHẦN 2: Tu để giải thoát:
* Đức Phật dạy không dụng công, mà chỉ trực nhận tánh Phật của chính mình và sống với Phật tánh ấy là đủ, Ngài gọi pháp môn này là Như Lai Thanh tịnh thiền. Từ đời Tổ thứ 2 trở đi gọi là Thiền tông.
PHẦN 3: Đức Phật dạy phổ biến 6 pháp môn tu của Ngài như sau:
1/- Lý luận, Lạy và Cầu, phổ biến nơi chùa Vật lý.
2/- Niệm Phật, phổ biến trong chùa Tịnh Độ tông.
3/- Niệm Chú, phổ biến nơi chùa Mật Chú tông.
4/ - Thiền Quán, Tưởng, phổ biến trong Thiền viện.
PHẦN 4: Như Lai Thanh tịnh thiền (Thiền tông):
- Chỉ phổ biến ở trong chùa Thiền tông.
PHẦN 5: Cấm không đem vào Nhà của Như Lai 4 thứ như sau:
1/- Tu viện là của đạo Thánh và đạo Thần.
2/- Xin xăm bói quẻ là của đạo Tiên.
3/- Xem ngày giờ tốt xấu là của đạo Mê tín.
4- Cúng kiếng là của đạo Ma.
PHẦN 6: Đức Phật dạy các môn đồ của Ngài, cũng như những người tu chân chánh theo đạo của Ngài phải nghiêm chỉnh biết và thực hiện 5 phần nói trên. Đừng vì danh và tiền mà làm sai lời của Ngài dạy mà phải bị luân hồi mãi mãi trong 6 đường, còn nặng nhất là đi vào con đường số 7 là Hoa báo!
Núi Linh Sơn, ngày trăng tròn tháng 6 năm Ca Tỳ La Vệ thứ 245, năm Giáp Thìn.
- Ngài A Nan Đà ghi chép lại.
- Ngài Ma Ha Ca Diếp truyền theo dòng Thiền tông.

- Ngài Huệ Năng là vị Tổ thứ 33 của dòng Thiền tông, cho phép  ông Thần Hội công bố ra, để cho những người tu theo đạo Phật biết và nghiêm chỉnh chấp hành.

TRÍCH QUYỂN “HUYỀN KÝ CỦA ĐỨC PHẬT VÀ NHỮNG VỊ NGỘ THIỀN”.

Tiếng vang của chén đá này
Vang đi khắp chốn chuyện này lạ tai
Tiếng nghe sao lại nghe hoài
Nghe như trùm khắp tỏ bày cùng ai.
Thầy ôi, Con ngộ căn tai
Tiếng đi trùm khắp, hôm nay tỏ tường
Thiền tông Đức Phật chủ trương
Ngộ được tánh Biết là đường về quê.
Quê xưa chỉ một đường về
Về nơi quê cũ không hề làm chi 
Thiền Thanh đặc biệt diệu kỳ
Rơi vào Bể tánh, cái chi cũng tường.
Rửa chén con hết bi thương
Tiếng kêu chén đá tỏ tường tánh Nghe
Như vậy các Tánh là bè
Đưa con thanh tịnh bằng bè về quê.
Trước kia con muốn trở về
Về nơi quê cũ một bề dụng công
Thiền tông không phải cầu mong
Mà chỉ một lòng thanh tịnh mà thôi.
Cũng đừng nghĩ chuyện xa xôi
Trước kia suy nghĩ vào đời chuyển luân
Phật xưa chỉ dạy chữ “Dừng”
Không theo vật lý là dừng lại ngay.
Phật ôi, Con khóc vì Ngài
Dạy con thanh tịnh vào ngay Niết bàn
Thầy con nhắc lại rõ ràng
Linh Sơn Phật dạy, một đàng về quê.
Hôm nay con thấy đường về 
Niết bàn thanh tịnh là quê của mình
Phật ôi, con chỉ nghe nhìn
Lời Ngài huyền diệu tuyệt linh vô cùng.
Không ngờ nghe thấy muôn trùng
Về nơi quê cũ ung dung nhẹ nhàng
Con nay đã được bình an
Niết bàn thanh tịnh muôn ngàn thảnh thơi.
TRÍCH QUYỂN "CUỘC ĐỜI VÀ NGỘ ĐẠO CỦA 36 VỊ TỔ SƯ THIỀN TÔNG".


Thiền Tông nó chảy theo dòngTheo dòng thanh tịnh ở trong lòng mình
Thiền Thanh Phật dạy núi Linh
Là thiền Thanh tịnh tuyệt linh cõi này.
Ta nay hỏi Ngươi như vầy 
Không dùng vật lý, là đây thiền gì?
Ngươi biết thì trình tức thì
Ngồi đó suy nghĩ, vậy thì bỏ đi.
Suy nghĩ mà biết thứ chi
Là được những thứ bỏ đi cho rồi
Ngày xưa Đức Phật dạy “Thôi”
Luân hồi nhiều kiếp hết rồi với ta.
TRÍCH QUYỂN "CUỘC ĐỜI VÀ NGỘ ĐẠO CỦA 36 VỊ TỔ SƯ THIỀN TÔNG".


Kính thưa độc giả.
Pháp môn tu Thiền tông học, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy nơi thế giới này là pháp môn Ngài không sử dụng bất cứ thứ gì trong vật lý trần gian để dạy. Vì vậy, pháp môn Thiền tông học được xếp vào hàng “tuyệt mật” của Phật giáo. Vì chỗ tuyệt mật đó, nên ít người nhận ra được, cũng bởi lẽ đó, hiện nay chúng tôi chưa thấy có vị nào biết pháp môn tu Thiền Tông Học này chính xác cả. 
Chúng tôi viết ra quyển cuộc đời và ngộ đạo của 36 vị Tổ sư Thiền tông này với mục đích chánh như sau:
1- Muốn nói lên thân thế và cuộc đời của 36 vị Tổ sư Thiền tông một cách thực tế và khoa học.
2- Không đem những chuyện hư ảo và huyền bí nêu trong 36 vị Tổ sư Thiền tông học này như nhiều vị đã viết ra trước đây.
Vì sao phải nói thực tế và khoa học như vậy?
- Xin kính thưa, vì hiện nay loài người văn minh đã lên cao, học vấn hơn hẳn người xưa, không ai chấp nhận những gì mà họ biết mù mờ không thực tế hay huyền bí cả. Vì chỗ đó, nên chúng tôi không nêu những thứ linh thiêng và huyền bí vào đây, cốt để pháp môn Thiền tông học này đúng với giá trị thực của nó.
3- Hiện nay, các Nhà Khoa học, Nhà Vật lý học, Nhà Bác học và những người có học thức cao, v.v… họ không chấp nhận những chuyện huyền bí linh thiêng mà người xưa nói và bày ra.
Vì sao vậy?
Vì những hiện tượng xảy ra hằng ngày là do biến chuyển của vật lý, các vị nói trên biết một cách hết sức rõ ràng và khoa học.
Họ bảo:
Những chuyện linh thiêng có tính cách thần bí hãy để cho người kém hiểu biết tin.Vì những người này thích những chuyện ấy, nên trúng ý của những người khôn lanh, nên họ thêu dệt thêm để họ được lợi như:
1- Được người khác kính nể và ăn trên ngồi trước.
2- Không lao động mà cũng có tiền xài.
3- Họ thấy dễ lường gạt quá.
Người trí thức ngày nay hỏi:
- Những chuyện linh thiêng mà người xưa nói, sao chúng tôi đã sống đến tám, chín mươi tuổi rồi mà chưa từng thấy. Do vậy, họ bảo những chuyện linh thiêng của người xưa nói là họ có ý đồ không tốt, chứ không phải là sự thật.
Quý vị lại hỏi, còn pháp môn Thiền tông học Nhà Phật này thì sao?
Cũng xin kính thưa, pháp môn Thiền tông học này là pháp môn rất thực tế và khoa học, giúp cho những ai muốn trở về quê hương chân thật của chính mình, nếu thực hành đúng lời Đức Phật dạy sẽ được toại nguyện, tức không bị ai lừa mình cả, nhưng quý vị phải hiểu, người “tu” theo pháp môn Thiền tông học này phải biết các điều căn bản như sau:
1- Ai tu sử dụng nhân duyên của vật lý thì có kết quả theo chiều vật lý, tức còn bị đi trong 6 nẻo luân hồi!
2- Trong vật lý mà làm bất cứ thứ gì đều phải có kết quả của vật lý.
3- Người tu không sử dụng những thứ trong vật lý, tức không làm theo vật lý, đồng nghĩa từ bỏ vật lý, Đức Phật gọi là “Vô trụ với vật lý, là giải thoát”. Phần giải thoát này, có “công thức” đàng hoàng chứ không phải nói suông. Nếu quí vị muốn thử thực tế pháp môn Thiền tông học này thì xin thử như sau:
1 - Tâm vật lý thanh tịnh rỗng lặng và hằng tri, khi thuần thục sẽ cảm nhận được sự kỳ diệu của Thanh tịnh thiền:
2- Đầu tiên, thân tâm vật lý của mình dường như không có.
3- Kế đến tự nhiên thấy làn nước mênh mông.
4- Nếu tâm mình mà tự nhiên được thuần thục, đồng nghĩa sức hút vật lý âm dương tự nhiên rời bỏ mình, mình liền được hút qua và vào khoảng không mênh mông vô tận.
5- Khi mình được hút vào khoảng không mênh mông vô tận đó, tự nhiên mình nghe, thấy và biết như sau:
A- Thấy mênh mông không giới hạn.
B- Nghe được trùm khắp.
C- Mình muốn phát ra tiếng, tự nhiên tiếng mình được vang rền trùm khắp.
D- Biết tự nhiên không thiếu chỗ nào.
E- Trong chỗ mênh mông trùm khắp trong sáng đó, nhờ “Điện từ quang” tự nhiên, Điện từ quang này không phải là Điện từ Âm Dương hay Điện từ Vật lý. Nhờ Điện từ này mà các tánh Thấy, Nghe, Tiếng, Biết, được “chuyên chở” đi trùm khắp. 
Vì sao các thứ trên được trùm khắp?
Xin thưa, vì nó không bị lực cản của vật lý nên được trùm khắp.
Trên đây là 5 căn bản của người tu theo Thiền tông phải biết và thực hành cho đúng thì mới có kết quả được. 
Có vị lại hỏi?
- Người ham thần quyền, sợ thần linh thì không nói làm chi, còn:
- Người có học vấn cao, người uyên thâm Phật học, nếu nói không biết, tại sao hiện giờ nhiều người đứng ra dạy pháp môn Thiền tông học này?
Chúng tôi cũng xin thưa:
- Phần này, chúng tôi có đi kiểm chứng, các vị giảng là giảng pháp môn tu thiền Tiểu thừa chứ không phải là Thiền tông. Chúng tôi xin nói rõ, hiện nay những vị dạy tu là pháp môn Tiểu thừa, pháp môn Trung thừa thì có ít hơn, còn pháp môn Đại thừa hoàn toàn chúng tôi chưa tìm thấy ai tu cả, vì vậy pháp môn Thiền tông tuyệt mật này làm sao có ai biết, nếu có biết cũng không ai dám tu. 
Vì sao vậy?
Vì chúng ta đang sống hoàn toàn lệ thuộc vào vật lý, còn pháp môn Thiền tông này là loại bỏ tất cả những thứ trong vật lý nên khó có người tu pháp môn này.
Người tu theo đạo Phật phải hiểu 2 căn bản như sau:
Một: Ai tu sử dụng những thứ trong vật lý là phải tạo nhân duyên, vì là nhân duyên nên mới có kết quả, có kết quả gọi là chứng hay đắc, có chứng hay đắc thì phải giữ lấy, vì giữ lấy nên phải theo chiều vật lý là Thành - Trụ - Hoại - Diệt, mà Đức Phật gọi là Sanh Tử - Luân Hồi!
Hai: Người “tu” pháp môn Thiền tông, là pháp môn không sử dụng bất cứ thứ gì trong vật lý cả, mà người tu chỉ cần để tâm vật lý của mình tự nhiên thanh tịnh, khi thuần thục tự nhiên được “Rơi vào Bể tánh Thanh tịnh” trong càn khôn vũ trụ này. Khi được rơi vào trong đó, tự nhiên mình muốn biết những gì mà mình muốn, nói theo Nhà Phật là mình đã về được quê xưa của mình, còn nói theo ngôn ngữ huyền bí là “thành Phật”.
Trên đây là hai căn bản của người tu theo đạo Phật, ai muốn tu mà còn luân hồi là tu sử dụng những thứ trong vật lý; còn ai tu muốn giải thoát thì đừng sử dụng bất cứ những thứ trong vật lý, chỉ có đơn giản như vậy thôi.
Người tu theo đạo Phật hiện nay, không phải tu để giác ngộ và giải thoát, mà họ tu theo đạo Phật để tìm chức vụ, hay tìm cuộc sống an nhàn trong vật chất. Do đó, họ bị những thứ trong vật chất ràng buộc nên không thoát ra được, khi lìa bỏ cuộc đời phải đi theo chiều vật lý. Cái bệnh của người tu hiện nay, là chấp mình tu được nhiều năm để khoe với người chung quanh, để được người chung quanh kính nể. Đây là cốt lõi của vật lý này vậy.
Mục đích của chúng tôi viết ra quyển sách này:
Một: Nêu danh 36 vị Tổ sư Thiền tông của 3 quốc gia mà có “Mạch nguồn Thiền tông” đã đi qua. 
Hai: Nêu bài kệ của Ngài Ma Ha Ca Diếp trình với Đức Phật và những bài kệ của các vị Tổ sư Thiền tông trình chỗ giác ngộ của mình trình với vị Thầy trước. Đặc biệt nhất, bài kệ Đức Phật truyền “Bí mật Thiền tông” cho Ngài Ma Ha Ca Diếp, chính bài kệ này được các vị Tổ sư Thiền tông lấy làm chuẩn để truyền Bí mật Thiền tông cho những vị sau, khi vị sau đạt được Bí mật Thiền tông rồi, vị Thầy trước có bổn phận là truyền Bí mật Thiền tông lại cho vị sau nữa. Nói cho thật chính xác, dòng Thiền tông này phải chảy theo dòng riêng của nó. Vì chỗ chảy riêng đó, nên các vị Tổ sư Thiền tông nói là “Giáo ngoại biệt truyền”, tức truyền ngoài kinh điển thông thường. Còn vị nào muốn biết thật rõ tu pháp môn Thiền tông học này, xin tìm đọc một loạt các sách của chúng tôi đã xuất bản.
Muốn giác ngộ nhanh, hãy đọc: 
- Tu theo pháp môn nào của đạo Phật dễ giác ngộ.
Muốn tu đúng theo pháp môn Thiền tông, hãy đọc:
1- Hành đúng phương pháp Phật dạy, chắn chắn được giải thoát.
2- Khai thị Thiền tông.
3- Đức Phật dạy tu Thiền tông.
Muốn biết dòng chảy của Mạch nguồn Thiền tông, hãy đọc:
- Huyền ký của Đức Phật và những vị ngộ thiền.
Muốn biết tất cả những thắc mắc, hãy đọc:
- Những câu hỏi về Thiền tông, quyển 1 và 2.
Còn muốn biết Đức Phật truyền Thiền tông và quí vị Tổ sư Thiền tông ngộ đạo như thế nào, hãy đọc:
- Cuộc đời và ngộ đạo của 36 vị Tổ sư Thiền tông Ấn Độ, Trung Hoa và Việt Nam.
Quyển sách này, tuy chỉ nói một đề tài, nhưng nó tuyệt quý vô cùng. Đầu tiên, vị đứng ra dạy pháp môn Thiền tông học này là Thái tử Tất Đạt Đa, con của vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Da, của nước Ca Tỳ La Vệ. Khi Ngài tu “Được rơi Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh”, được hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni, nên Ngài dạy pháp môn tu này. Nói theo người Trung Hoa, Ngài là vị thủy Tổ pháp môn Thiền tông học này vậy.
TRÍCH QUYỂN "CUỘC ĐỜI VÀ NGỘ ĐẠO CỦA 36 VỊ TỔ SƯ THIỀN TÔNG".


8/2/16

Ngài Phú Lâu Na hỏi:
- Kính bạch Đức Thế Tôn, làm sao phân biệt được tà đạo và chánh đạo?
Đức Phật dạy: 
- Người tu mà lấy vật chất trong vũ trụ này để làm chuẩn cho mục đích tu hành là tà đạo; còn người nào rời bỏ vật chất, dạy tu ra ngoài sự cuốn hút của vật chất thế giới này gọi là chánh đạo. Còn chánh đạo thật, là sử dụng tánh Phật của chính mình để: Thấy, Nghe, Nói và Biết là chánh đạo.
Ngài Phú Lâu Na lại hỏi tiếp:
- Bạch Đức Thế Tôn: Sao đời Mạt pháp, có người cực thiện mà lại cũng có người cực ác như vậy?
Đức Phật dạy: 
- Khi Như Lai thành đạo, có hai dạng người đến với Như Lai:
Một: Những người đến tán dương, hứa với Như Lai sẽ giúp phổ biến giáo pháp chân thật nơi cõi Nam Diêm Phù Đề này, chính những người này đến đời Mạt pháp họ đến thế giới này là để cứu người và làm lợi ích cho người khác.
Hai: Những người đến quấy phá, chính những người này chế ra những khí cụ, thúc dục các thuộc hạ giết người, không muốn cho bất cứ ai giải thoát mà phải làm người hầu kẻ hạ cho họ. 
Như Lai nhắc lại hai dạng người này:
- Khi Như Lai thành đạo, họ không làm gì được, nên những người này có lời nguyền thật mạnh mẽ rằng: Vào đời Mạt pháp, đệ tử của Cồ Đàm có tu kiểu gì, hành thiền kiểu gì, sau cùng cũng phải làm theo ý muốn của ta cả!
Đức Phật dạy thêm: 
- Thời Mạt pháp, nhiều người nghe được giáo pháp của Như Lai dạy nơi cõi Nam Diêm Phù Đề này, họ liền có lời phát tâm cao: quyết chí xuất gia tu hành để được giác ngộ và giải thoát. Lời phát nguyện ban đầu rất mãnh liệt, nhưng, sau cùng cũng bị quyến rủ bởi: Tiền, Tài, Danh, Lợi, nên những người này sau cùng cũng làm theo lời nguyền của Ma Vương, nên đi dụ dỗ người khác, lường gạt người nhẹ dạ, hoặc hù đọa người khác, thậm chí đi làm mướn cho người có tiền, mà quên đi mình là một vị Thầy thay mặt Như Lai, dạy chúng sanh tu Thiền Giác ngộ.
Đạo của Như Lai là như vậy, nhưng họ lại đi làm ngược lại, quên đi lời phát nguyện cao cả ban đầu của mình.
TRÍCH QUYỂN "KHAI THỊ THIỀN TÔNG".






Cụ bà Trương Thị Mỹ, 71 tuổi, cư ngụ tại huyện Hóc Môn đi trong đoàn đứng lên nói:
- Chúng tôi chứng kiến cụ Lê Đại Trung đọc 72 câu kệ, Trưởng ban xác nhận cụ Trung đã đạt được “Bí mật Thiền tông”, nếu không chứng kiến việc này thì chúng tôi không tin. Vậy, xin Trưởng ban giải thích rõ thêm pháp môn này để chúng tôi hiệu thật rõ thêm, còn các pháp môn khác không giải thoát được sao?
Trưởng ban trả lời:
- Như chúng tôi đã trình bày ở trên, nếu cụ hiểu căn bản rồi, thì cố gắng hiểu thêm như sau:
- Pháp môn Thiền tông này, Như Lai dạy riêng cho Ngài Ma Ha Ca Diếp, là vị Tổ Thiền tông thứ nhất, để giúp cho ai kiên trì muốn giải thoát; chớ trên thế giới này không có pháp môn nào giải thoát được.
Vì sao chúng tôi quả quyết như vậy, xin cụ hãy nghe rõ lời phân tích như sau:
Một: Trong Bể tánh Thanh tịnh gọi là Phật giới:
- Có được sự sống là nhờ điện từ Quang rung động, nên lúc nào cũng hành, nhưng hành trong cái thanh tịnh.
Do vậy, bất cứ ai sử dụng tâm duyên hợp của vật lý để tìm ra Phật tánh, Đức Phật bảo: các ông đi tìm lông con rùa vậy.
Phần này, Đức Phật có dạy rõ nơi “Vượt Hải Triều Âm” như sau:
Dù có vạn Đức Phật
Đến với thế giới này
Để cứu người giải thoát
Cũng chưa chắc cứu được
Ai đó nói cứu giùm
Là kẻ đại lường gạt!
Hai: Tam giới:
- Gọi là hệ mặt trời, chung quanh có 4 vòng như sau:
Vòng 1: Nơi có 6 hành tinh cấu tại bằng tứ đại và điện từ Âm Dương.
Vòng 2: Có 11 hành tinh cấu tạo bằng điện từ Âm Dương 5 màu sắc rất đậm.
Vòng 3: Có 17 hành tinh cấu tạo bẳng 12 màu sắc điện từ Âm Dương rực rỡ.
Vòng 4: Có 11 hành tinh cấu tạo bẳng điện từ Âm Dương không màu sắc.
Bốn vòng này, tổng cộng có 45 hành tinh, gọi là 1 tam giới.
Trong 4 vòng này, mỗi vòng cấu tạo bằng điện từ Âm Dương khác nhau. Ở 6 địa cầu, địa cầu nào cũng có 1 vị Phật dạy công thức giải thoát. Ở địa cầu này, hiện là do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy, hiện còn đang lưu hành.
Bà Trương Thị Mỹ xen vào lời Trưởng ban:
- Đang lưu hành, sao không thấy nơi nào dạy?
Trưởng ban trả lời:
- Vì pháp môn Giải thoát này, Như Lai truyền riêng cho các vị Tổ Thiền tông, không dạy cho đại chúng. Vì vậy, không ai biết được, trừ khi vị nào nhận được tập Huyền Ký của Đức Phật truyền theo dòng Thiền tông, thì vị này mới biết. Nếu vị nào ham danh mê lợi mà nhận được tập Huyền Ký này, thì cũng không dám phổ biến.
Vì sao vậy?
- Vì pháp môn Thiền tông này cực Dương, tức cực mạnh, nó phá vật chất, đưa con người ra ngoài sự ràng buộc của vật chất. Do đó, vị Thầy tu mà còn ham danh mê lợi thì làm sao dám tu hay phổ biến pháp môn Giải thoát này.
Trưởng ban nói thêm:
Cụ tu theo đạo Phật, phải hiểu cốt tủy của Đức Phật dạy, thì mới mong tu đúng được. Chúng tôi xin trợ giúp cho cụ 4 câu kệ của Đức Phật dạy như sau:
Thiền tông chẳng kiếm chẳng tìm
Chẳng quán, chẳng tưởng nhận liền tánh Nghe
Tánh Nghe tánh Thấy là bè
Đưa người Thanh tịnh về miền quê xưa.
Cụ bà Trương Thị Mỹ đã nhận ra được lời Đức Phật dạy, nên được Trưởng ban cấp cho cụ giấy chứng nhận giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông”,cụ hết sức vui mừng và cám ơn.
TRÍCH QUYỂN " HÀNH ĐÚNG LỜI PHẬT DẠY CHẮC CHẮN GIẢI THOÁT".

7/2/16

         Phật  là trùm khắp mọi nơi
Chân Tánh theo Phật khắp nơi mà hành
       Trong Tánh Phật chỉ rõ rành
Cái Thấy thanh tịnh không sanh điều gì.
       Cái Nghe thanh tịnh một khi
Khi Biết chỉ Biết vậy thì mà thôi
       Pháp Tánh, trùm khắp mọi nơi
Có phát ra tiếng, tiếng thời không vơi.
       Tiếng đi khắp chốn khắp nơi
Nhưng trong Pháp Tánh, không đời mất đi
       Nếu khi tiếng phát lại thì
Tiếng trong như trước cũng y ban đầu.
       Đừng tưởng tiếng nói ban đầu
Chỗ này không có mất đâu bao giờ
       Thầy chỉ các con bây giờ
Như ở mặt biển bất ngờ phúng lên.
       Tướng nước khi đã vượt lên
Lên cao đến đỉnh lại rơi về nguồn
       Thầy dạy các con phải luôn
Cứ nhớ cho kỹ lý này suy ra.
       Pháp Tánh không phải ở xa
Ở trong thanh tịnh chạy ra ngoài nguồn
       Tất cả tứ đại cũng luôn
Ở trong Tánh nguồn chạy khắp mọi nơi.
       Khi vào tam giới rong chơi
Bị hút vật lý luân hồi chuyền đi
       Các con đừng có tư nghì
Tánh Thấy thanh tịnh là đây Niết bàn.
       Muốn lìa sức hút thế gian
Chỉ cần “Thôi, Dứt” Niết bàn hiện ra
       Như Lai nói rõ lòng ta
Tu theo đạo Phật là xa luân hồi.
       Ai làm như vậy được rồi
Luân hồi sanh tử là thôi tìm mình
       Các ông ngồi đó lặng thinh
Uổng công vô ích không tìm ra chi.
       Nghe lời ta dạy một khi
Thực hiện cho được tâm thì yên vui
       Như Lai để lại niềm vui
Cho người thanh tịnh yên vui Niết bàn.
       Tức khắc hết khổ hết nan
Như Lai chỉ rõ có đàng này thôi
       Các ông có kiếm được rồi
Đây là đường khổ xa rời nhà xưa.
       Dù cho ngồi tịnh sáng trưa
Không biết đường đến chỗ xưa nhà mình
       Các ông cố gắng giữ gìn
Nhận ra Tánh Thấy biết mình có Nghe.
       Căn bản các Tánh là bè
Đưa người thanh tịnh về miền quê xưa
       Tu Thiền  đừng chọn sớm trưa
Không ngồi không đứng không ưa Niết bàn.
       Tâm mình đừng có lang thang
Tìm theo vật lý mất đàng về quê
       Các ông nhất quyết lời thề
Chưa nhận chân thật không hề  dậy đi.
       Tâm phải nhất quyết một khi
Chừng nào nhận được độ thì người quen
       Đứng trước ánh sáng ngọn đèn
Xin đèn chứng giám một phen lòng này.
       Kế tiếp con cám ơn Thầy
Đã dùng phương tiện dạy đây môn Thiền
       Tự  nhiên hết đảo hết điên!
Cám ơn Thầy dạy môn Thiền tuyệt hay.
       Lần nữa cám ơn Đức Thầy
Môn thiền Thanh tịnh tại đây lưu truyền
       Con nói cho người hữu duyên
Pháp môn thiền học của Thầy truyền con.
       Con xin giữ trọn môn Thiền
Giúp cho thiên hạ được yên trong lòng
       Từ đây con hết chờ mong
Mà tâm thanh tịnh ở trong lòng này.
       Lần nữa cám ơn Đức Thầy
Đã giúp con được tuyệt đây môn Thiền
       Con nay hết đảo hết điên!
Cũng nhờ Đức Phật truyền Thiền chúng con.
       Lần nữa nhất quyết lòng son
Những ai muốn ngộ con liền chỉ cho
       Kính xin Đức Phật đừng lo

Con nguyện đền đáp công to của Ngài.

TRÍCH QUYỂN " CUỘC ĐỜI VÀ NGỘ ĐẠO CỦA 36 VỊ TỔ SƯ THIỀN TÔNG" - TÁC GIẢ NGUYỄN NHÂN.

___________________

___________________

TIN TỨC